mercredi 31 mars 2010

Ký Sự của cha Vachet : 11/11

Đức cha Lambert viếng thăm Đàng Trong lần đầu

Chương XI
Trở về Xiêm La


Tại bến Nha Ru.

Trước khi rời Hội An, Đức cha Bêrytê đã nhận được thư của cha Mahot xin ngài hãy ghé xứ Phủ Mới để an ủi giáo dân. Vị thừa sai này cho biết ngài thấy tương lai mở rộng cho việc làm sáng danh Chúa Giêsu Kitô. Có những nơi cả làng xin học đạo chuẩn bị chịu phép rửa tội. Ngài gặp một vài người trong dân chúng, cho dù họ còn là dân ngoại, xong đã biết các kinh nguyện của chúng tôi. Dáng vẻ tốt đẹp đó khiến Đức cha Bêrytê quyết định viếng thăm xứ đó lần thứ hai trên đường đi. Chúng tôi chỉ còn cuộc viếng thăm này nữa là hoàn tất những lời mà chúng tôi đã hứa với các tín hữu của những giáo đoàn (églises) khác nhau. Chúng tôi lên đường về hướng bờ biển đó. Nếu Thiên Chúa phù hộ dự tính của chúng tôi, chúng tôi quyết định sẽ đáp thuyền đến bến cảng xứ Nha Ru. Nhưng khi chúng tôi đến gần đó, biển lại rất động đến nỗi xem ra không thể nào mà cập bến mà lại không bị nguy hiểm tới tính mạng của tất cả mọi người trong thuyền. Chúng tôi đành viết thư cho cha Mahot, nhờ một thủy thủ liều lĩnh chèo xà lúp đem tin chúng tôi vào cho ngài, và cho ngài biết chúng tôi không thể nào đặt chân lên đất liền được. Ngài phải chịu một hy sinh hãm mình là không thể ra đến con thuyền của chúng tôi được, bởi vì ngài đang bị đau. Nhưng ngài sai một vài chú học trò ra gặp chúng tôi. Ngài có ý muốn sẽ dạy dỗ các chú này. Dưới sự hướng dẫn của một thầy giảng là thầy dạy của các chú, tất cả các chú đến nhận phép lành của Đức cha Bêrytê. Dáng khiêm tốn của các chú làm chúng tôi rất vui lòng. Các chú ấy cũng học được nhiều nơi cái khiêm tốn của những chú học trò của chúng tôi. Chúng tôi có thể nói rằng thời gian các chú gặp nhau đã khích lệ các chú cả đôi bên. Chúng tôi kỳ vọng rất nhiều nơi các mầm non này để đạo Chúa sẽ được phát triển tại xứ Đàng Trong.Sau cùng, chúng tôi cho các chú trở vào bến cảng. Chúng tôi từ giã cha Guyart, người đã đi tiễn chúng tôi cho tới tận đây. Đức cha Bêrytê lúc ra đi đã lập ngài làm linh mục tổng đại diện tại vương quốc này, với lệnh phải mau lẹ đi thăm viếng tất cả mọi nơi.Cuộc chia tay này không phải là không đau lòng. Nhưng Đấng Quan Phòng đã định như vậy, tại vì chúng tôi buộc lòng phải mau trở về Xiêm La do thời tiết và do công việc thúc đẩy.


Đường về.

Ngày 29/3/1672, chúng tôi căng buồm ra khơi. Lúc này, mọi sự đều thuận tiện cho việc đi biển. Và ngay chiều hôm đó, chúng tôi không còn nhìn thấy mảnh đất Đàng Trong nữa. Chúng tôi đi tìm những hòn đảo xinh đẹp mà chúng tôi đã thấy rất tiện lợi trong bận đi. Những hòn đảo này chỉ thích hợp cho các con thuyền nhỏ như con thuyền của chúng tôi mà thôi. Còn những con tàu lớn một khi bị gió và luồng nước xô vào, thì không thể quay ra được nữa và đương nhiên là sẽ bị hư hỏng ngay tại đảo.Sau khi đi lênh đênh trên biển cách bình an suốt 25 hay 26 ngày, chúng tôi bị lạc đường lúc gần như kết thúc chuyến đi. Các thủy thủ đã lẫn lộn con sông này với con sông nọ, chúng tôi trễ mất 24 giờ đồng hồ. Họ vào được con sông Xiêm La khoảng 10 tháng sau khi chúng tôi rời khỏi đó. Chúng tôi gặp lại dòng sông này, không những với niềm vui quen thuộc của các khách du hành khi trở lại nhà mình, mà còn có cái thú vị mà người ta hưởng được trên dòng sông, với bao nhiêu là cây cối xanh tươi dịu mát bao quanh, và với tất cả những đồ ăn ngon tươi mà người ta gặp được.

Gặp vị sứ thần Đàng Trong.

Chúng tôi còn ở trong thuyền khi vị sứ thần Đàng Trong nhận ra chúng tôi. Ông đang đi dạo chơi trong thuyền của ông ở khoảng lối vào kinh thành, đối diện với ngôi nhà của những người Hòa Lan, cách nhà chúng tôi một dặm. Cuộc gặp gỡ bất ngờ này đã gây ra cho chúng tôi một nỗi gian truân rất phiền phức. Bởi vì vị sứ thần này bất chợt gặp thấy một cánh buồm của xứ ông chở người Đàng Trong, ông tin dễ dàng rằng đó là những kẻ lẩn trốn, và ông nghĩ rằng ông phải có nhiệm vụ bắt giữ họ với bất kỳ giá nào. Chắc chắn là ông ta sẽ làm việc ấy, nếu như không có một can thiệp của Đấng Quan Phòng giúp giải cứu bất ngờ chúng tôi, trong một tình cảnh mà tất cả những cẩn thận của con người không thể tiên liệu được. Một nhóm người có vũ trang, mà tôi không biết do sự tình cờ nào, lại đang ở gần đó. Họ là những người có đạo. Khi họ nghe ai đó nói rằng trên thuyền có một vị giám mục mà người ta muốn bắt giữ, họ liền chạy tới nơi có tiếng ồn ào. Họ kéo chúng tôi ra khỏi những rắc rối. Sau đó, chính chúng tôi tự mình về tới nhà báo tin mừng chúng tôi trở về bình an.


Lo ngại.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn rất lo ngại về những chuyện có thể xảy ra sau vụ này. Thực ra, không phải tại Xiêm La là nơi mà chúng tôi biết rằng nhà vua sẽ không từ chối bảo vệ chúng tôi, nhưng tại Đàng Trong, vì ông sứ thần có thể viết thư về đó, theo cách thức mà ông đã dấy động người ta chống lại đạo thánh chúng tôi.Vì lý do đó, chúng tôi xét rằng phải dùng một vài giải pháp với ông ta để dò xem ý hướng của ông. Đức cha Bêrytê gửi tới ông một người Nhật có đạo để nói với ông thay cho ngài, rằng ngài đã cảm thấy rất bức xúc khi bị chửi rủa tại đất nước này, và tại kinh đô của một vị vua vốn quý trọng bảo vệ các người Pháp cho đến bây giờ, và rằng ngài không tin Đức vua sẽ chấp nhận được cách đối xử tồi tệ của người ta đối với bản thân ngài. Ban đầu, vị sứ thần xin lỗi cách khá lịch sự. Nhưng chúng tôi nhìn thấy những thù hận trong lòng ông qua tất cả vẻ lịch thiệp bên ngoài. Chúng tôi sợ rằng con người này sẽ giữ tất cả hờn giận của ông cho tới lúc ông quay về lại xứ Đàng Trong, (nếu ông chưa trút cơn giận ra lúc đó qua những lời bí mật trong thư từ của ông). Bởi thế, chúng tôi dùng hết cách thức có thể tưởng tượng ra được để lấy lòng ông ta, hầu từ từ cất khỏi ông ý định mà ông có thể đã có là tung tin chống lại các thừa sai mà chúng tôi đã để lại tại Đàng Trong, khi ông được cấp trên gọi trở về bên đó.


Người trung gian.

Tìm ra được một người làm trung gian với vị sứ thần thì không khó khăn. Ông ta có một sứ thần đồng nghiệp mà may thay lại là người có đạo. Ông này sẵn lòng nhận vụ việc của chúng tôi mà ông ta coi như việc của Thiên Chúa vậy. Ông ta xem như một niềm vui được nên hữu dụng cho vinh quang Thiên Chúa khi lo việc ích cho chúng tôi. Ông chẳng quên điều gì trong một cuộc thương lượng rất thánh thiện như vậy. Bởi thế, chúng tôi có thể nói được rằng Thiên Chúa đã ban cho ông ta tất cả mọi phúc lành mà chúng tôi có thể chờ đợi nơi tính cẩn thận và lòng nhiệt thành của ông. Và nếu những vẻ bề ngoài không phỉnh lừa chúng tôi, thì không những vị sứ thần sẽ không làm hại chúng tôi, mà chúng tôi còn hy vọng ông ta sẽ là một người bạn nữa.Tuy nhiên, lúc ban đầu, ông ta không nhường bước ngay. Bởi vì ông ta đã đệ đơn ra tòa chống lại các thủy thủ của con thuyền chúng tôi. Phải khó nhọc mới làm cho ông ta nguôi lại trong vụ này. Nhưng sau cùng, ông ta trấn tĩnh được nhờ Đức cha Bêrytê đề nghị sẽ gửi một thừa sai đi theo ông ta, ngay trên con tàu của ông ta. Qua thừa sai đó, ngài sẽ viết thư đến nhà vua Đàng Trong để tường trình với nhà vua về chuyến đi sang đất nước Đàng Trong của ngài, về lý do tại sao ngài đã không đến triều đình, về nguyên cớ nào khiến ngài mang theo với ngài vài chú học trò người Đàng Trong sang Xiêm La. Chúng tôi chỉ định cha Langlois, linh mục người Pháp, phải sẵn sàng để ra đi. Chúng tôi còn cho một thầy chủng sinh lên thuyền trước, thầy là người sẽ tháp tùng cha Langlois. Nhưng con tàu đã nhổ neo trước lúc chúng tôi đồng ý được với nhau. Thầy chủng sinh ra đi một mình. Cha Langlois trở về lại chủng viện. Một thời gian sau, chúng tôi gửi cha Mahot đi.


< >

samedi 27 mars 2010

Ký Sự của cha Vachet : 10/11

Đức cha Lambert viếng thăm Đàng Trong lần đầu
Chương X
Rời Hội An



Rời Hội An.
Mấy ông giáo dân vị vọng xứ Nước Mặn, nơi Đức cha Bêrytê đã bị bệnh, đi theo chúng tôi một thời gian lúc chúng tôi rời đó ra đi. Họ thấy được những việc lành chúng tôi làm tại những nơi chúng tôi đi qua. Trở về xứ, họ phúc trình ra rất tích cực nên người ta viết thư đến Đức cha Bêrytê tha thiết xin ngài hãy trở lại qua đó lúc ngài muốn quay về Xiêm La. Người ta thưa với ngài rằng thật là không công bình khi ngài không ban sự hiện diện và sự giúp đỡ của ngài cho xứ của họ. Bởi vì xứ của họ chỉ được vinh dự tiếp ngài với nỗi ưu phiền vì ngài đau bệnh, chẳng được hưởng lòng nhiệt thành của ngài. Lời kêu van đó được diễn tả bằng những lời lẽ rất cảm động khiến ngài không còn cách nào từ chối được.Chúng tôi lên thuyền xuôi dòng sông ngày 15.02.1672, với ý định làm vui lòng những người dân trung hậu đó.


Thoát một nguy hiểm.

Chúng tôi gặp gió ngược suốt 5 ngày trời. Vào những ngày đó, Thiên Chúa đã giải cứu chúng tôi khỏi một cơn nguy hiểm lớn. Người ta đã chặn con thuyền của chúng tôi tại một hải quan. Người ta hỏi ông thủy thủ chính xem ông có chở người khách nước ngoài nào không. Hơi kinh ngạc trước câu hỏi đó, ông ta cũng cố hết sức để trả lời thoát thân theo khả năng mình. Tuy nhiên, chúng tôi qua được. Nhưng chúng tôi vừa chớm đi xa được khoảng một tầm súng bắn thì người ta bắt chúng tôi phải quay trở lại. Vài nhân viên vào con thuyền chúng tôi để thăm viếng. Nếu họ tinh mắt hơn, chúng tôi đã bị khám phá ra và gặp nguy hiểm nặng nề rồi, bởi vì sự việc sẽ được tấu trình lên nhà vua, chỉ duy có Chúa mới biết những sự gì sẽ xảy ra sau đó. Quả thực là chúng tôi đã cải dạng thành người đi buôn. Nhưng ngoài chuyện chúng tôi không có giấy thông hành, người ta còn dễ dàng nhận ra chúng tôi, nếu người ta mở các gói hành lý của chúng tôi ra và thấy những đồ lễ của chúng tôi. Có thể họ là những người có đạo, bởi vì nếu họ là người ngoại, họ đã khám xét rất kỹ lưỡng rồi. Cuối cùng, sau nhiều vòng đi và vòng lại, chúng tôi xong được chuyện nhờ một chút tiền và rượu bản xứ.


Trở lại Quảng Ngãi.

Ngay khi thoát ra khỏi tay họ, chúng tôi chỉ còn nghĩ tới chuyện phải tới được, sớm nhất có thể, con thuyền mà chúng tôi đã thuê cho hết phần còn lại của chuyến đi Đàng Trong. Chúng tôi đi qua trước nhiều hải quan mà không ai hỏi han gì chúng tôi. Chúng tôi ra tới cửa sông. Sau mấy ngày nắm chờ gió thuận tại đó, chúng tôi ra được ngoài biển.Nhưng gió sớm thay đổi, trở nên vũ bão, khiến chúng tôi phải quay vào đất liền để trú thân tại một vài vùng vịnh mà người ta gập thấy đầy dẫy dọc bờ biển. Chúng tôi ở lại đó không bao lâu, vì chúng tôi mong ước mau đến được bến cảng chính của xứ Quảng Ngãi. Chúng tôi hối thúc các thủy thủ tiếp tục con đường cho dù thời tiết tồi tệ. Họ đã làm để cho chúng tôi vui lòng và đã đưa chúng tôi đến bến cảng mà chúng tôi muốn đến cách bình an.Rất nhiều con thuyền đã ra biển cùng ngày hôm đó với chúng tôi, nhưng đã không gặp may như chúng tôi. Có những con thuyền đã tới nơi sau chúng tôi trong tình trạng thảm hại : buồm thì bay mất, cột buồm thì bị gẫy và bánh lái thì bị bể. Có những con thuyền khác thì bị vỡ đắm ngay trên những tảng đá do sóng biển xô dạt thuyền vào. Có 6 người cùng một con thuyền đã bị tử nạn. Xem đó, tôi không biết phải cảm phục sao cho đủ sự quan phòng của Thiên Chúa trên chúng tôi. Bởi lẽ, cứ theo vẻ bề ngoài thì đúng ra con thuyền của chúng tôi đã bị nạn hơn là những con thuyền khác. Lý do là các thủy thủ của chúng tôi luôn giữ những cánh buồm lớn dù gió thật dữ dội, thay vì dùng những cánh buồm nhỏ như người khác để dễ thích ứng. Tuy nhiên, xem ra họ cẩn thận hơn chúng tôi, nhưng chúng tôi lại may mắn hơn họ.


Dừng chân tại Nước Mặn.

Xuống thuyền, chúng tôi hỏi các chú học trò trẻ ở đâu. Các chú này phải đợi chúng tôi tại một bến cảng nọ để cùng chúng tôi sang Xiêm La. Một người trong nhóm của họ mà họ đã cố tình để lại đó đã báo cho chúng tôi rằng, theo ý kiến của các bậc vị vọng trong giáo hữu, người ta đã cho các chú đi đường bộ trước chúng tôi vào xứ Nước Mặn rồi, với một ông nào đó là người dạy các chú biết đọc và biết viết tiếng bản xứ. Tin này khiến chúng tôi phải trở lại con thuyền của chúng tôi. Bằng đường biển, chúng tôi sẽ đi gặp các chú, nhưng chẳng được mau lẹ như chúng tôi mong ước, bởi vì thời tiết xấu đã cản chân chúng tôi.Chúng tôi ở lại một thời gian tại cửa biển Nước Mặn để chuẩn bị tất cả những gì liên quan tới chuyến trở về Xiêm La. Chúng tôi chấp nhận một con thuyền giống như con thuyền đã chở chúng tôi tới Đàng Trong. Trong lúc người ta sửa soạn con thuyền, Đức cha Bêrytê đi viếng thăm các nơi khác nhau, nơi nào giáo dân cũng rất đông đảo.


Cha chính xứ Nước Mặn.

Giáo dân không còn biết diễn tả niềm vui của họ như thế nào khi họ nhìn thấy vị giám mục của họ mạnh khỏe, sau khi đã từng thấy ngài cận kề với cái chết. Phép thêm sức, phép giải tội và phép Mình Thánh Chúa là công việc liên tục suốt 8 ngày trời, cả ngày cả đêm, bởi vì gần như đừng phải nghĩ tới chuyện nghỉ ngơi một chút nào. Chúng tôi gửi đi 6 chứng thư, cho các thầy giảng cũng như cho những người khác là những người không có tước vị thầy giảng nhưng được đặt đứng đầu các nhà thờ nào đó. Và để cho niềm vui của những người dân này được trọn vẹn, Đức cha Bêrytê đặt cha Giuse, linh mục người Việt, tại giáo xứ chính của họ, để ngài làm cha chính xứ. Ngài còn cho cha thêm, ngoài nhiệm vụ đặc biệt trên, quyền quản nhiệm tổng quát toàn xứ (Nước Mặn). Vị công nhân đáng kính này là người được vinh dự làm linh mục người xứ Đàng Trong tiên khởi. Chắc hẳn, ngài đã nhận lãnh được những hoa quả đầu mùa trong tinh thần linh mục. Ngài là người mang một lòng nhiệt thành nóng bỏng, một đức cẩn thận hiếm có, và một sức làm việc không thể tưởng tượng được. Lòng bác ái của ngài làm cho ngài vui vẻ chịu đựng được tất cả mọi tật xấu của dân tộc ngài. Tính hiền hòa của ngài khiến ngài nên dễ cảm mến đối với tất cả mọi người. Đức khiêm nhường của ngài làm cho chính ngài phải khổ cực lắm khi chịu đựng chính con người mình. Đức vâng lời của ngài làm ngài phục tùng cách tuyệt đối các bề trên của ngài ; cho dù ở nhiều nơi, người ta đã tha thiết muốn có được ngài làm vị mục tử chăn dắt họ, ngài không hề bao giờ tỏ ra ước muốn nào khác hơn là được thi hành ý muốn của vị giám mục của ngài.


Một người thuộc dòng dõi nhà vua.

Sau khi đã nêu ra một chứng từ nhỏ cho một người xứng đáng mà tôi là chứng nhân nhãn tiền, tôi phải nói ra rằng trong lúc Đức cha Bêrytê đi đây đi đó thì tôi, theo lệnh ngài, phải ở lại nơi chúng tôi đã cập bến với tất cả những chú học trò của chúng tôi và với cả ông thầy giảng là người đã giúp tôi trong xứ Quảng Ngãi. Lúc ấy, chúng tôi đang ở vào những ngày đầu tiên của Mùa Chay. Và sự thánh thiện của Mùa Chay đã làm tăng thêm lòng sốt mến của các tín hữu các vùng lân cận. Họ đã tụ họp lại thành từng đoàn bên cạnh tôi. Trong vòng 7 ngày, chúng tôi đã rửa tội cho nguyên một gia đình, ngoài một vài cá nhân ra. Trong số họ, tôi vô cùng cảm kích về một vị quý tộc trẻ 28 tuổi là người được coi là có họ hàng với nhà vua và là người có nhiệm vụ lo các binh đoàn của nhà vua.Đã từ lâu, anh ta tha thiết xin được ân huệ này, anh ta đã tới gặp nhiều thầy giảng. Các thầy đều từ chối mà không dám thổ lộ gì với anh ta cả, vì các thầy sợ anh ta lợi dụng cái dễ dàng của các thầy để làm hại giáo hữu. Nhưng anh ta chẳng hề trách oán ai, âm thầm tìm biết được nơi tôi đang ở, anh ta đến trình bày cho tôi niềm ao ước của anh. Tôi dò xét anh theo tất cả khả năng của tôi xem anh có thực sự thành tâm không. Tôi còn hỏi anh ta xem anh có được học biết về các mầu nhiệm đạo chúng ta không. Tôi đã viết cho Đức cha Bêrytê những điều tôi nghĩ về lòng thành và về các đức độ khác nơi vị quý tộc trẻ tuổi này. Ngài nói tôi hãy rửa tội cho anh ta mà không phải hãi sợ chi. Tôi đặt tên cho anh ta trên giếng nước rửa tội là Phê Rô.


Một dự tính.

Sau đó, anh tân tòng ấy tin tưởng tôi đến độ cởi mở tâm hồn anh ra với tôi một cách thật đơn sơ chân thật. Anh nói với tôi rằng anh cảm thấy rất bị lôi cuốn hiến thân cho Thiên Chúa cách đặc biệt. Anh thấy nhiều nguy hiểm khi trở lại triều đình là nơi anh đã thoát ra khỏi. Ngay khi anh trở về, cha mẹ anh là người có những trách nhiệm hàng đầu tại triều đình, sẽ có thể dùng uy tín bên cạnh nhà vua và quyền bính trên anh mà bắt anh nhận một nhiệm vụ nào đó không thích hợp với việc giữ đạo. Bởi vì, vào một số dịp, những công vụ ấy đòi hỏi anh phải tuyên xưng ngoại giáo như những người khác, hoặc là bị kết tội phản nghịch lại nhà vua.Tôi đề nghị mang anh theo vào số các chú học trò của chúng tôi, và Đức cha Bêrytê đồng ý điều ấy. Nhưng vào lúc chúng tôi khởi hành, anh bị lên cơn nóng sốt suốt mấy ngày trời nên anh không thể theo chúng tôi sang Xiêm La được.Thiên Chúa đã cho phép như vậy để tránh cái ác hại có thể xảy đến từ chuyện trên. Bởi vì luật pháp xứ Đàng Trong kết án tử hình binh sĩ nào ra khỏi vương quốc mà không có phép của nhà vua. Anh ta hẳn nhiên là sẽ gặp nguy hiểm lớn bị nhận diện và bị bắt giữ bởi một vị sứ thần đất nước anh mà chúng tôi đã gặp, và thậm chí vị sứ thần này còn dám chửi bới chúng tôi nữa khi chúng tôi về tới bến cảng Xiêm La, như sẽ thấy ở chương sau đây.


<>

mardi 23 mars 2010

Ký Sự của cha Vachet : 9/11

Đức cha Lambert viếng thăm Đàng Trong lần đầu
Chương IX
Tại Hội An

Giáo dân tuôn đến.
Tất cả những đề phòng của chúng tôi để tránh cho người ta biết chúng tôi tới đây thì chẳng mấy hiệu quả. Thiên hạ biết chuyện chẳng chút khó khăn, và tin tức truyền đi giữa các người có đạo, lan khắp các vùng lân cận, thậm chí còn tới cả các chốn xa xôi nhất. Lòng tha thiết của các tín hữu muốn gặp mặt vị giám mục của họ do Tòa Thánh gửi đến đã khiến họ vượt lên trên tất cả những canh chừng cẩn thận. Dẫu tất cả họ đều hiểu là rất cần phải giữ kín đáo sự việc, họ cứ công khai kéo đến thành từng đoàn từng lũ. Họ tìm kiếm sự trợ giúp mà họ mong chờ từ bao lâu nay. Họ không nghĩ tới những phiền phức có thể xảy đến sau đó do một cuộc tụ tập rất đông đảo và rất lộ liễu như vậy.
Bất kỳ lúc nào, chúng tôi cũng thấy có những con thuyền chở đầy người cập vào đảo. Con thuyền nào cũng muốn đón vị giám mục để rước ngài đến những địa điểm khác. Những người này thì xin ngài tới xứ Ca Chàm là nơi vị phó vương coi phần đất lớn nhất của vương quốc đặt dinh thự của ông. Những kẻ khác lại mời ngài lên thuyền đến Đà Nẵng (Turam) là nơi không kém phần quan trọng. Những kẻ khác nữa thì lại trình bày những nhu cần khẩn thiết của xứ Bầu Nghệ và của muôn vàn nơi khác nữa. Nhưng những người tại Hội An thì lại phản đối, không chịu để ngài thoát khỏi tay của họ.
Và tất cả đều cảm thấy xót xa trước một bậc vị vọng như thế mà lại ở trong một túp lều quá đỗi tồn tàn. Tuy nhiên, họ thán phục hơn nữa trước niềm vui nơi ngài giữa chốn quá nghèo nàn và hèn hạ.

Phải về Xiêm La.
Ngài muốn làm vừa lòng tất cả mọi người, hoặc vì kết quả to lớn mà ngài hy vọng thu được khắp nơi giữa những kẻ có đạo cũng như những kẻ không có đạo, hoặc vì ngài không nỡ lòng nào cho họ ra về với một lời từ chối sau khi họ đã đến đây từ 20, 30 hay 50 dặm đường. Ngài phải ra vẻ thích nghi giữa những cuộc thăm viếng khác nhau với nhu cầu tuyệt đối phải quay trở về Xiêm La sớm nhất có thể. Chúng tôi nghĩ rằng Đức cha Hêliopolis (tức Đức cha Pallu) đã tới Xiêm La. Hai vị giám mục này cần phải bàn luận với nhau về nhiều sự và cần phải thánh hiến một trong các vị giáo sĩ của các ngài mà các ngài xét là xứng đáng hơn cả để kế vị Đức cha Mêtellopolis. Bởi thế, phải cáo lỗi cùng các vị đại biểu xứ Đà Nẵng và xứ Bầu Nghệ. Để làm dịu lòng họ, chúng tôi hứa với họ rằng Đức cha Bêrytê sẽ có thể trở lại vào khoảng cuối năm này. Trong khi chờ đợi, ngài sẽ gửi tới cho họ một linh mục tổng đại diện để chuẩn bị cho họ chịu phép thêm sức và ban cho họ các phép bí tích khác.

Ca Chàm.
Vì những vị đại diện xứ Ca Chàm là những người ở gần nhất, chúng tôi đi đến thăm họ. Chúng tôi lấy hai thầy giảng làm người bảo vệ trên đường sông. Họ là hai anh em ruột. Họ đưa chúng tôi lên thuyền vào ban tối và cho chúng tôi cư ngụ rất đàng hoàng ở gần nhà thờ. Chúng tôi hẹn với các giáo dân vào một buổi tối. Họ đến rất đông để lãnh phép thêm sức. Chúng tôi cũng rửa tội cho nhiều lương dân. Nhưng vì ở gần cận với vị phó vương và có nhiều lính tráng, điều không cho phép chúng tôi ở lâu hơn mà không gặp nguy hiểm bị khám phá ra, nên chúng tôi đã mau chóng dùng thuyền trở về Hội An.

Chia rẽ.
Nên nói ra ở đây lý do chính yếu khiến Đức cha Bêrytê đã phải ở lại Hội An lâu hơn ở những nơi khác.
Đã từ mấy năm qua, chúng tôi nhìn thấy bắt đầu có sự chia rẽ (tại Giáo Hội Đàng Trong), và chúng tôi lo ngại sự chia rẽ lan rộng hơn. Cha Hainques và cha Brindeau đã viết thư về Xiêm La mà đau buồn nói tới chuyện này trước khi các ngài từ trần. Ý của các ngài là chỉ có quyền bính của một vị giám mục, với sự hiện diện của ngài, mới có thể ngăn chận được cơn tai ác này. Thực vậy, khi chúng tôi đến, chúng tôi thấy tinh thần các giáo hữu và các thầy giảng rất chia rẽ về nhiều việc. Nếu người ta không mau chóng đưa họ về sự hiệp nhất, có thể họ sẽ bùng nổ ra mạnh mẽ. Nhưng Thiên Chúa ban nhiều phúc lành cho Đức cha Bêrytê hầu ngài chỉ dẫn cho mọi người thấy cần phải bảo tồn sự hòa hiệp, và những ai hăng hái nhất thì làm mọi sự ngài mong muốn và họ góp phần giúp những ai theo họ được bình tĩnh hơn.

Một buổi hội chung.
Buổi họp đó được diễn ra trong một buổi hội chung. Đức cha Bêrytê muốn cho tất cả các tín hữu biết rõ tường tận những ý định và những mệnh lệnh của Tòa Thánh. Ngài muốn cất bỏ đi nguyên nhân những khác biệt có thể chia rẽ họ. Ngài cho công bố cách chính thức 5 tông sắc mà 4 tông sắc đầu là của Đức Giáo Hoàng Alexandre VII và tông sắc thứ năm là của Đức Giáo Hoàng Clêmentê IX. Những tông sắc này lại được tái xác nhận bởi đấng kế nhiệm là Đức Giáo Hoàng Clêmentê X. Tất cả những tông sắc này đều được mọi người đồng tâm đón nhận và tạo được sự bình an. Sự bình an này sẽ bền lâu nếu như những kẻ lúc đó đã vâng phục vẫn tiếp tục vâng phục như vậy. Nhưng vì một nỗi bất hạnh mà chúng tôi không biết phải tiếc xót sao cho vừa, họ đã nghĩ phải hành động một cách khác. Việc này thì thuộc quyền duy nhất Tòa Thánh xét định lý lẽ của họ, chúng tôi phải kính trọng chờ đợi quyết định của Tòa Thánh và tuân phục không dè giữ.

Mấy kỷ luật.
Ngoài việc công bố mà chúng tôi vừa nói, chúng tôi cũng ra một vài kỷ luật mà Đức cha Bêrytê lập nên theo ý kiến của các linh mục tháp tùng ngài và của các thầy giảng nhiều kinh nghiệm nhất trong xứ. Những kỷ luật này có thể thu về 9 điều khoản và sau đây là nội dung căn bản :
Điều 1 :
Tất cả các thợ Phúc Âm, linh mục cũng như thầy giảng, sẽ long trọng đọc tại các nơi họ làm việc 5 tông sắc nói trên, và làm cho mọi người nhìn nhận quyền bính của Tòa Thánh.
Điều 2 :
Không ai được làm công tác thầy giảng và giữ tước vị thầy giảng mà không có phép rõ ràng của Đức cha Bêrytê hay của linh mục tổng đại diện của ngài, bằng không thì sẽ bị vạ tuyệt thông, vì đã có những lạm dụng nặng nề về điểm này.
Điều 3 :
Các giáo xứ mà thầy giảng đã bị cắt chức có thể chọn ra ai đó có khả năng nhất và đức hạnh nhất để giúp giáo dân, thăm viếng bệnh nhân, rửa tội trẻ nhỏ và giúp người hấp hối, v.v. Phải gửi ngay tên các người được chọn tới Đức cha Bêrytê hay tới linh mục tổng đại diện của ngài để sự chọn lựa ấy được nhìn nhận. Như vậy, trước khi chịu phép thêm sức, những người đó sẽ được phép thi hành công tác của họ trong trường hợp khẩn thiết.
Điều 4 :
Trước khi rửa tội một người lớn, ai ban phép rửa tội thì phải hỏi người ấy xem họ có sẵn sàng chưa.
Điều 5 :
Những ai điều khiển các buổi hội họp ngày chúa nhật và ngày lễ thì phải liệu cho đọc Sáu Điều Răn Hội Thánh, sau khi đã đọc Mười Điều Răn Đức Chúa Trời.
Điều 6 :
Cũng những người này phải sớm cho Đức giám mục hay linh mục tổng đại diện của ngài được biết về tất cả các đám hôn phối đã làm hay sẽ làm, trong những thứ bậc bị cấm, để còn được xét xử theo luật khôn ngoan cẩn thận.
Điều 7 :
Không được cho rửa tội những ai sống chung không phép cưới trước khi họ xa rời nhau, và không thấy rõ những dấu hiệu sửa đổi nơi họ.
Điều 8 :
Những lương dân nào muốn trở lại đạo mà có nhiều vợ, thì chỉ được giữ lại bà vợ cả mà thôi, nếu như bà này xin chịu phép rửa tội. Trong trường hợp bà ta không muốn trở lại đạo, thì có thể chọn bất kỳ ai trong những bà vợ lẽ, miễn là bà sau này được rửa tội, theo như chỉ dạy của giáo luật.
Điều 9 :
Phải thường xuyên ghi khắc vào lòng các tín hữu rằng giữ đạo tại tâm chưa đủ, để được cứu rỗi thì còn phải xưng đạo ra bằng miệng lưỡi mình nữa, như thánh Phaolô nói, ngay cả khi nguy hiểm tới mạng sống mình.

Sau buổi hội chung.
Đó là những điều mà chúng tôi quy định trước khi rời nơi này.
Chúng tôi được an ủi vì trong thời gian ở đây, chúng tôi đã rửa tội cho 50 người ngoại giáo, và vì con số cùng phẩm hạnh tốt của 17 thầy giảng mà Đức cha Bêrytê đã đặt lên bằng việc ban chứng thư cho họ. Ngài ban cho mỗi thầy một nhà thờ riêng thể theo ý muốn của các tín hữu. Chúng tôi sẽ được mãn nguyện trọn vẹn, nếu như chúng tôi có được nhiều tự do hơn nữa để ban các bí tích cho tất cả những ai trình diện. Nhưng những nghi ngờ mà thiên hạ bắt đầu nêu ra về chức vị con người chúng tôi đã khiến chúng tôi phải thu hẹp lại và thậm chí phải mau chóng rời ra đi. Tuy nhiên, trước khi chia tay ra đi, trong một buổi hội gồm các linh mục và các thầy giảng, chúng tôi có được niềm vui quyết định chung rằng Đức cha Bêrytê sẽ gửi về Rôma những thông tin chính xác mà ngài đã cho thực hiện tại chỗ, về tất cả những người đã chịu chết trong cuộc bách đạo vừa qua. Đồng thời, các giáo hữu Đàng Trong cũng gửi thư lên Đức Giáo Hoàng, xin ngài hãy vui lòng nhìn nhận như những vị tử đạo các đấng anh hùng bảo vệ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô và cho phép toàn thể vương quốc được cử hành hằng năm một buổi lễ tôn vinh các ngài.

Về hồ sơ các vị tử đạo Đàng Trong.
(Ghi chú riêng của nhà xuất bản)
Vào cuối năm 1673, Đức cha Bêrytê đã trao các thông tin trên cho ông De Chamesson, một nhà quý tộc người Pháp, để mang về Âu châu. Nhưng ông này từ trần tại xứ Golconde vào năm 1674. Các thông tin ấy được gửi trả về Xiêm La. Do đó, (tại Âu châu) chúng tôi chỉ nhận được vài thông tin rời rạc, nên chúng tôi nghĩ rằng chưa thể công bố cho đại chúng được. Chúng tôi mong chờ từng ngày toàn bộ hồ sơ để sẽ cho phát hành, một khi Tòa Thánh lên tiếng tuyên bố về chuyện này. Lúc đó, chúng tôi sẽ cho biết các trình tự thủ tục đã thực hiện tại Xiêm La và tại Đàng Trong về vấn đề trên, trước cũng như sau những chỉ thị mà người ta sẽ gửi từ Rôma đến các giám mục người Pháp, để điều tra về mặt pháp lý tất cả những vị đã hy sinh mạng sống mình vì đức tin.
< >

samedi 20 mars 2010

Chân dung


Bức chân dung trên của Đức cha Lambert de la Motte đã được Đức cha Jacqueline (1918-2007), lúc là khâm sứ Tòa Thánh tại Maroc, nhìn ngắm như sau :
« Thoạt nhìn, bức chân dung đã toát ra một ấn tượng vừa oai nghiêm lẫn mộc mạc. Vị giám chức mặc áo ca-mai mầu xanh của các giám mục thời Chế Độ Cũ. Khuôn mặt ngài ngăm ngăm đen với một bộ râu dầy và rậm. Nét mặt xương xẩu và lắm vết nhăn, miệng khép kín và mũi khoằm tỏ rõ ra là một con người có nghị lực mãnh liệt, ngập tràn lòng cao thượng. Ngài đã tìm thấy được sự quân bình cho mình giữa các cuộc tranh đấu và chống đối. Vầng trán cao và thẳng mà ta nhìn ra được ở đấy cái sâu sắc của trí thông minh và cái cao siêu của tư tưởng ; dưới vầng trán đó là đôi mắt đang chăm chú nhìn bạn với sự sáng suốt hòa lẫn lòng nhiệt thành thầm kín.
Đức cha Lambert de la Motte khiến chúng ta nghĩ đến những cây sồi cổ thụ trong rừng xứ Normandie, cong quẹo vì những cơn giông bão và là nơi chim trời đến nghỉ ngơi. Nơi ngài, nói cho cùng, có cái khôn ngoan của vị thẩm phán và cái khôn ngoan của người dân quê, có cái lòng nhiệt tình của vị tiên tri và cái uy phong của đấng kế vị các tông đồ.
Con người đó, luôn tỉnh thức, vừa bị day dứt vừa được bình an, chính là vị thừa sai biết lắng nghe Thần Khí, hoàn toàn sát tế với Đức Kitô và trọn vẹn phó dâng mình trong tay Cha Trên Trời cho Nước Chúa trị đến. »
(Mgr Bernard Jacqueline, « L’esprit missionnaire chez Mgr Lambert de la Motte », trong báo Documents Omnis Terra, janvier 1983, Roma, trang 10).

< >

jeudi 18 mars 2010

Chân dung Lambert de la Motte

From: josephdao.dao@
To: srthumai@
Subject : Hinh Duc Cha Lambert

Date: Mon, 12 Oct 2009 19:40:44 +0200

Kính Sr Thu Mai,
Đó là hình do họa sĩ Paul SARRUT họa lại từ bức chân dung khác. Lý do là họa sĩ này sinh năm 1882 và từ trần năm 1969.
Bức họa chân dung Đc Lambert tại bảo tàng viện Quai Branly (37, quai Branly, 75007 PARIS) :
Họa sĩ : ông Paul SARRUT (1882-1969)
Kích thước (cao, rộng, sâu, nặng) : 82,9 x 66,6 x 3 cm, 2078 g.
Địa chỉ web :
http://www.quaibranly.fr/cc/pod/recherche.aspx?b=1&id=75.8060#

Bảo tàng viện này còn lưu trữ được những bức họa chân dung khác do ông Paul SARRUT thực hiện là :
- Đức cha Pallu.
- Cha Alexandre de Rhodes.
- Đức cha Pigneau de Béhain (cha Cả).
- vân vân.

Hai điểm trên bức họa khiến tôi ngạc nhiên là (1) Tên Pierre Marie của Đc Lambert, và (2) cái áo ca-mai (camail) và cái mũ ca-lót (calotte) màu xanh của ngài.

lundi 15 mars 2010

Ký Sự của cha Vachet : 8/11

Đức cha Lambert viếng thăm Đàng Trong lần đầu

Chương VIII
Tiếp tục chuyến thăm viếng

Rời Quảng Ngãi.
Ngày lễ Giáng Sinh đến gần, các giáo dân nhà thờ Bình Sơn (Bizung) nơi mà thi hài của cha Hainques an nghỉ, đã cử các thầy giảng và vài người trong các giáo hữu vị vọng của họ đại diện đến gặp Đức cha Bêrytê xin ngài tới cư ngụ nơi họ vào dịp Lễ [Giáng Sinh] và thăm viếng ngôi mộ của người đã hiến dâng đời mình để mở đường lên Trời cho họ. Ngài đã không làm khó khăn gì khi ban một ân huệ mà chính ngài đã quyết định như thế ngay trước khi họ đến ngỏ lời xin với ngài ; và ngài đã quy định với các vị đại diện trên ngày người ta sẽ đến đón ngài ra khỏi xứ Quảng Ngãi, xứ mà chúng tôi chỉ có thể rời đi với nỗi buồn trong lòng.
Các vị đại diện nhận ra rõ tình cảm đặc biệt của chúng tôi đối với xứ này nên họ bắt đầu gọi xứ này là Cô Con Gái đầu lòng của các nơi truyền giáo của chúng tôi. Tôi không biết tại sao, nhưng đúng thật là chúng tôi có một lòng yêu thương cách riêng xứ này, và tình cảm này đối với chúng tôi xem ra rất đúng. Xứ này được cái lợi hơn so với những xứ khác vì là Mẹ một số đông các vị tử đạo, là xứ đã dâng cho Chúa Giêsu Kitô những trinh nữ đầu tiên đã dấn thân giữ đức khiết tịnh, ngoài ra còn nhiều chủng sinh trẻ tuổi hướng mình theo thánh ý Thiên Chúa vào đời sống giáo sĩ. Các chú đua chạy những bước khổng lồ trên đường nhân đức, với dự tính một ngày nào đó sẽ giúp đỡ quê hương họ, sau khi tiếp nhận mọi ánh sáng cần thiết trong chủng viện tại Xiêm La, nơi chúng tôi có ý định dẫn họ sang.Tất cả mọi lý do trên xứng đáng để chúng tôi có một lòng quý mến riêng đối với xứ này. Và bởi vì con số tín hữu nơi này rất đông, Đức cha Bêrytê không nghĩ rằng chúng tôi phải bỏ mặc họ vào thời gian rất thánh thiện này. Ngài chia sẻ sự giúp đỡ của ngài, và để tôi ở lại với họ hầu ban các bí tích cho tới ngày Lễ Hiển Linh, trong khi đó ngài sẽ đi với một linh mục người Đàng Trong đến Bình Sơn, nơi mà ngài đã hứa sẽ đến.

Chu Mê.
Vào ngày trước hôm ngài lên đường, các giáo dân Chu Mê đến xin ngài vui lòng ban phép thêm sức khi đi ngang nơi họ ở. Ngài cho cha Giuse, linh mục người Đàng Trong, với một thầy giảng bản xứ, đi chuẩn bị phép bí tích này cho những ai muốn lợi dụng thời gian một đêm duy nhất mà ngài ban cho họ. Ngài theo ngay sau hai vị đi tiên phong đó và ngài xuống cư trú trong nhà một giáo dân tên là Ben Tô, người mà trước lúc chịu tử vì đạo trong cơn bách hại vừa qua, đã dâng ngôi nhà của ông để làm nhà thờ cho các tín hữu sau khi ông chết. Người ta nhìn thấy thi hài của ông đặt ngoài lòng đất, dưới một căn lều. Chính tại nơi đó mà Đức cha Bêrytê đã trải qua đêm, cho kẻ này rước lễ, cho kẻ khác chịu thêm sức, và rửa tội cho 7 tân tòng. Ngài từ chối một số khá đông muốn được rửa tội, lưu lại vào một dịp khác, vì ngài xét họ chưa học đạo cho đủ.

Bình Sơn.
Ngay buổi sáng, ngài tiếp tục con đường thẳng tới Bình Sơn, nơi ngài rất được mong đợi. Trong vòng 10 ngày trời ngài ở đó, ngài đã ban cho tôi được vinh dự nghe ngài kể tất cả những gì xảy ra trong cuộc thăm viếng của ngài qua nhiều lá thư. Suốt ngày suốt đêm, ngài giảng dạy và ban các phép bí tích mà vẫn không thể thỏa mãn được phần nhỏ nhất của giáo dân. Trước lúc trời sáng quãng hơn một tiếng, ngài lên bàn thánh để tiếp theo đó là ban phép thêm sức. Ngài xong việc thì đã quá trưa. Ngài rửa tội cho hơn 60 người lớn. Ngài giải quyết nhiều đám hôn phối. Ngài thêm vào số các thầy giảng một anh tân tòng, tuổi là 20, mà khả năng chữ nghĩa cũng ngang hàng với cái đẹp tự nhiên nơi anh. Người thanh niên trẻ này tuyên bố với Đức cha Bêrytê rằng nhờ đọc một cuốn sách đạo đức do cha Hainques đã soạn, mà anh quyết định giữ đời sống độc thân và hiến thân trọn vẹn cho Chúa để làm việc lo phần rỗi cho quê hương của anh. Do vậy, Đức cha Bêrytê ban việc cho anh và để thử việc, ngài sai anh hãy đem những lời đầu tiên của Phúc Âm đến cho cha mẹ anh, là những người cho tới lúc đó xem ra rất gắn bó với việc thờ cúng ngẫu tượng. Nhưng ơn Chúa đi kèm nơi những lời của người con đó đã đánh động mạnh mẽ cha mẹ anh. Họ hứa với anh sẽ trở lại đạo trong ít tháng nữa, khi họ đã học hiểu đầy đủ các mầu nhiệm đức tin và các lề luật luân lý trong đạo.Vào lúc ngài xúc tiến như vậy các việc tôn giáo tại Bình Sơn, tôi cố gắng làm nhiệm vụ của tôi trong xứ mà ngài đã để tôi ở lại. Ngay khi Đức cha Bêrytê rời tôi ra đi, tôi gửi đến các nơi khác nhau một ông thầy giảng sốt mến. Ông ta dẫn đến cho tôi những gia đình trọn vẹn đầy đủ để tôi rửa tội. Nếu tôi hoãn phép rửa tội lại đối với gia đình nào đó vì họ chưa học hỏi đầy đủ, thì họ lại than thở và khóc lóc, vì lòng nhân lành của Chúa đánh động con tim của họ. Nhưng dù tôi có ý thích muốn ở lại nơi đó để gặt hái lấy phần hoa quả còn đó mà tôi có thể hứa hẹn cho chính mình, tôi phải tuân theo những chỉ thị mà ngài đã ra cho tôi. Và tôi đi tới Bình Sơn vào buổi chiều ngày Lễ Ba Vua để gặp lại Đức cha Bêrytê và tiếp tục với ngài chuyến đi cho tới Hội An.

Một làng dân chài.
Khi chúng tôi chỉ còn hơn một ngày đi bộ và hai con sông phải qua để tới nơi (Hội An), một lũ đàn bà đến chận chúng tôi lại dọc đường. Các bà nài van ép chúng tôi phải quẹo ngang đường vài dặm mà đi tới ngôi làng của họ. Chúng tôi trải qua 3 ngày nơi làng đó mà làm những phận vụ quan trọng nhất thuộc thừa tác vụ của chúng tôi. Lại còn phải để lại đó một ông thầy giảng để ông chuẩn bị cho nhiều lương dân chịu phép rửa tội. Phần đông những người này là các dân ngư phủ nghèo khổ, nhưng linh hồn của họ thì cũng đáng quý trước mặt Thiên Chúa như linh hồn các bậc vương giả cao sang nhất. Và chúng tôi chợt nhớ lại là chính từ những hạng người như thế mà Đấng Cứu Thế đã lấy làm những cột trụ đầu tiên cho Giáo Hội của Ngài.

Hội An.
Sau lần nhượng bộ đó, không còn gì có thể cản đường chúng tôi nữa. Và sau cùng, chúng tôi tới được Hội An vào ngày 15/01/1672, sau cha Guyart là 4 tháng rưỡi. Cha đã có đầy đủ thời giờ cần thiết để kín đáo chuẩn bị tiếp đón chúng tôi. Bởi vì bến cảng này là bến cảng nổi tiếng nhất Đàng Trong và người ta gặp ở đây rất đông người thuộc đủ mọi quốc gia, nên chúng tôi phải giữ mình kín đáo hơn ở bất kỳ thành phố nào trong vương quốc. Người bạn chúng tôi, vì lý do đó, đã cho người tới gặp chúng tôi và cho chúng tôi biết phải cập đến ở đầu một hòn đảo nhỏ, cách cảng độ một tầm súng đại bác.Chúng tôi gặp lại ở đó người đang chờ đợi chúng tôi. Cha ấy dẫn chúng tôi vào một túp lều nhỏ mà cha đã cố ý cho dựng nên vì chúng tôi. Túp lều là một mớ thân cây ghép lại với nhau và được nối dính lại bằng một thứ vữa chẳng có giá trị gì. Cái túp lều đó nằm bên cạnh túp lều của một giáo dân bản xứ. Ông ta là hoa tiêu, biết tiếng la tinh và tiếng Bồ Đào Nha. Ông ta đã dễ dàng làm quen với cha Guyart và ông đã khuyên cha đến ở bên cạnh nhà ông.Cái nghèo nàn của căn nhà nhỏ này hiện ra nhất là ở cái mái, tại vì mái nhà chỉ là rơm lợp lên một cách rất thô sơ, nhưng rất cần thiết để chống mưa. Tuy nhiên, căn nhà lại có vẻ rất dễ thương đối với Đức cha Bêrytê. Chính vì lý do đó mà tôi không nhớ đã có bao giờ thấy ngài, vào một dịp nào khác, vui vẻ hơn thế không. Lúc này, ngài cho thấy rõ cái tươi vui hiện ra trên khuôn mặt của ngài và ngài nói hang đá Chúa Giêsu Kitô thì duyên dáng hơn tất cả các cung điện vua chúa trần gian.
<>

dimanche 14 mars 2010

trois amantes de la croix

(Hình tư liệu của Hội Thừa Sai Paris)