samedi 19 juillet 2025
Bút tích
vendredi 16 mai 2025
Cái chết ước mong
Cái chết ước mong của Đức cha Lambert
Ngay từ ban đầu cuộc đời thừa sai, Đức cha Lambert đã ước mơ một cái chết tuyệt vời.
Đối với ngài, đâu là cái chết tuyệt vời ?
Thưa : Đó « là được chết
trên một án tử hình, bởi bàn tay của một tên đao phủ, vì bảo vệ Phúc Âm của Người,
vì sự cứu rỗi của tha nhân và vì tình yêu tinh tuyền đối với Thiên Chúa nhân
lành » (Ký Sự 2, đoạn 16).
Tóm lại, đó là cái chết tử vì đạo.
Đầu năm 1663, sau khi ở Xiêm được nửa năm, Đức cha Lambert viết thư cho
bà Công tước D’Aiguillon tại Paris, báo tin về các Kitô hữu tại Nhật rằng :
« Tin tức mà tôi nhận được nơi một trong các người Pháp từ Nhật trở
về là cuộc bắt hại đạo vẫn tiếp tục. Từ năm hay sáu tháng qua, hơn 200 người bị
án tử hình vì tuyên xưng Đức Giêsu Kitô. Một cái chết đẹp đẽ, kính thưa bà, nếu có sự gì để ước mong trên đời này,
thì đó là điều duy nhất. » (Ngày
21-03-1663. Thư 012).
Ngày 12-07-1663, sau gần một năm dừng chân chờ đợi tại Xiêm, cùng thừa
sai Deydier, ngài lên tàu sang Quảng Châu. Và trước khi ra đi, ngài viết một
bài suy tư rất dài, phản ánh lại tình cảnh nguy hiểm ngài đang gặp phải lúc đó,
do sự thù nghịch của những người thuộc chế độ bảo trợ truyền giáo Bồ Đào Nha
tìm triệt hạ ngài. Ngài viết :
« Chúng ta sẽ vui nhận tất cả những may mắn
và tất cả những điều khác xảy đến trong ơn
gọi chúng ta. Tin chắc rằng nếu Thiên Chúa để cho những chuyện đó xảy ra là điều
lợi nhất cho chúng ta. Và thật vậy, khi hoàn toàn tuân theo ý Chúa, còn cái chết nào đáng được ca tụng hơn và thầm
kín hơn bằng bị ám sát, bị chết đói,
chết trong cùng cực, bệnh hoạn hay
do bị đầu độc vì Thiên Chúa. Những cái chết
đó thật diệu kỳ và đầy hồng ân, bởi vì những cái chết đó đều cao quý trước mặt Thiên Chúa và bị che khuất trước mắt
người đời, họ thường coi đó là do các thừa tác viên Phúc Âm đã thiếu khôn ngoan
hay do sự trừng phạt của Thiên Chúa. Ôi lạy Chúa, con thấy sự tôn phong ấy thật
đẹp đẽ biết bao ! » (Ký Sự 2,
đoạn 18).
Trong chuyến đi biển đó, con tàu gặp bão tố khủng khiếp, « biển động
dữ dội và liên tục đến nỗi người ta nghĩ rằng bất cứ lúc nào con tàu vốn đã bị
vào nước, cũng sẽ gẫy đôi ra ». Mọi người thấy « cái chết trước mắt mình, không còn chút hy
vọng được cứu thoát ». Lúc đó, thái độ của Đức cha Lambert ra sao ?
Ngài nói :
« Chính trong những khoảnh khắc hồng phúc này họ cảm nhận được cuộc
giao tranh giữa phần hạ đẳng của lý trí với ân sủng. Chính trong những giây
phút quý giá ấy, họ dâng hy sinh mình lên Cha hằng sống, Đấng qua các biến cố
bày tỏ cái nhìn được Đức Giêsu Kitô khứng lòng thông tỏ cho. Cuối cùng, chính
trong cơn nguy hiểm đáng quý đó, họ dâng lời tạ ơn, lời ca tụng và niềm hân
hoan lên Chúa, Đấng đoái thương cho họ thấy mình bị cuốn chìm xuống đáy biển
cách hoàn toàn vâng phục, đang khi đi theo ơn gọi mình. » (Ký Sự 2, đoạn 19).
Cái chết tuyệt vời ở đây là chết vì đi theo ơn gọi của mình, vì đang thực
hiện sứ vụ nhận được từ Thiên Chúa.
Do bão tố, chuyến đi Quảng Đông năm 1663 không thành. Đức cha Lambert và
mọi người trở về lại Xiêm. Và khi suy nghĩ về biến cố « chết hụt » đã
xảy ra, ngài thấu hiểu hơn bao giờ hết kinh nghiệm của thánh Phaolô là « tôi sống nhưng không phải tôi sống. Mà
chính Đức Kitô sống trong tôi » (Ga-lát
2, 20). Từ đó, ngài nhìn ra một nguyên tắc cơ bản trong cuộc đời thừa sai
như sau :
« Chính cái chết
đó và cuộc sống đó đem lại cho một thừa sai tông tòa tất cả sự thông minh và khả
năng trong các công việc tuyệt vời của vị thừa sai. Không có sự đó, chắc chắn mọi
hoạt động của vị thừa sai sẽ bị pha trộn vào cái tự nhiên hay vào sự khôn ngoan
thuần túy là những kẻ thù của đời sống Phúc Âm. » (Ký Sự 2, đoạn 20).
Tiếp theo, ngài nhắc tới một kinh nghiệm sống đời thiêng liêng quen thuộc
trong lịch sử các thánh. Đó là hãy luôn đặt cái chết trước mắt mình để biết sống
hiện tại, vượt qua những thử thách, cám dỗ và khó khăn. Ngài nói :
« Nếu chúng ta coi rằng chúng ta đang ở vào ngày hôm trước ngày trọng
đại của vĩnh cửu [tức trước cái chết], chúng ta sẽ không gặp khó khăn... »
Vẫn trong bài suy nghĩ về thất bại trên, Đức cha Lambert đã nêu ra một
nguyên tắc sống cho mọi Kitô hữu. Đây là một nguyên tắc hay một quy luật rất
căn bản, cần thiết và vô cùng hữu ích cho chúng ta :
« Một người sống cách tự nhiên hay theo lý trí thuần túy, không thể được
gọi là một Kitô hữu đích thực. »
Lời dạy giản dị, rõ ràng, nhưng sâu sắc này, sẽ trực tiếp dẫn chúng ta tới
lời dạy của chính Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Thầy của chúng ta :
« Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em. Hãy chúc lành cho kẻ
nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. [...] Nếu anh em yêu
thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa ? Ngay cả người tội lỗi
cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình,
thì còn gì là ân với nghĩa ? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. »
(Lc 6, 27-33).
Thi hành lời dạy của Phúc Âm như trên là đang chết đi cho chính mình, một
cái chết thiêng liêng khiến ta sống như con cái của Thiên Chúa và phục sinh vào
đời sống mới với Đức Kitô.
(Về phần Đức cha Lambert, sau thất bại năm 1663, ngài sẽ không bao giờ vào
được Trung Hoa, mặc dù đó là sứ mệnh quan trọng mà Tòa Thánh đã chỉ thị cho
ngài và dù ngài vẫn luôn luôn để tâm tìm cách thực hiện sứ vụ đã nhận lãnh).
Ở đây, chúng ta đã thấy cái chết thể lý mà Đức cha Lambert ao ước, đó là
« trông mong được ơn chết cho Chúa,
hoặc bằng cái chết huy hoàng rực rỡ
qua bàn tay tên đao phủ, hoặc bằng cái chết
âm thầm như chết vì đói khát, vì
nghèo khổ, vì bệnh hoạn, vì đắm tàu, hay bằng một cái chết diễm phúc nào tương tự. » (Ký Sự 3, đoạn 26). Bên cạnh đó là cái chết thiêng liêng hằng ngày của
người dấn thân theo Đức Giêsu Kitô, đặc biệc bằng ba lời khấn khó nghèo, khiết
tịnh và vâng lời. Người ấy « đã hy sinh cả con người mình cho Thiên Chúa
cách tốt nhất có thể [...]. Từ đó, người ấy không còn chỗ dựa nào cả đến nỗi trở
thành như một người hành khất đích thực. Lúc ấy, người ta có thể nói người đó
đã chết và cuộc sống của họ ẩn mình
trong Chúa Giêsu Kitô. Đó là đời sống mà các người đạo đức gọi là một đời sống
đã hủy mình ra không và đầy từ bỏ. » (Ký
Sự 3, đoạn 26).
Lời khuyên dạy mà Đức cha Lambert viết cho hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá đầu
tiên, chị Anê và chị Paula, chính là nói về cái chết thiêng liêng này :
« Các con thân mến,
qua đó, các con thấy được sự cao trọng của ơn gọi các con và thấy được rằng các
con đã chết cho thế gian, nghĩa là
cho các giác quan, cho bản tính tự nhiên và cho lý trí con người, để từ nay trở
đi chỉ sống theo những lời dạy, việc làm và cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô. »
(Ký Sự 7, đoạn 130).
Với xác tín rằng chết khi
thi hành ơn gọi của mình là chết cho Thiên Chúa, năm 1665, trong lá thư luân
lưu gửi giáo phận Đàng Trong của ngài, Đức cha Lambert viết câu sau :
« Sự thực
là tôi vô cùng ao ước được sống giữa anh chị em, và niềm ao ước còn lớn hơn nữa
là được chết cho anh chị em. » (Ký Sự 4, đoạn 50).
Và nếu chúng ta đọc lại
các lá thư của ngài, chúng ta sẽ thấy Đức cha Lambert hay nói tới cái chết ước
mơ, cái chết mà chúng ta đã thấy trên đây.
Với người bạn cũ là Viện
phụ Val-Richer, ngài nói :
« Chỉ còn một điều
tôi thiết tha ao ước vô cùng, đó là chết
bằng một cái chết phũ phàng cho Đức
Giêsu Kitô Chúa chúng ta, để bảo vệ Phúc Âm và vì phần rỗi các dân tộc được
trao phó cho tôi. Ơn huệ này là cao cả nhất trong các ơn huệ thương xót của Người. »
(Năm 1663. Thư 024).
« Cái chết phũ
phàng » (la mort vilolente), từ ngữ quen thuộc của ngài, có nghĩa là một
cái chết do bạo lực, do tai nạn và không hề do một nguyên nhân tự nhiên nào.
Ngài rất thường sử dụng từ này để nói tới cái chết tử vì đạo mà suốt đời mình,
ngài hằng mong ước được diễm phúc đó.
Cũng vậy, ngài viết thư để
lại cho cha De Bourges trước khi lên tàu đi Quảng Đông năm 1663 rằng :
« Nếu Chúa rất thương xót ban cho tôi ân huệ
cao trọng mà tôi xin Người và chủ yếu là điều tôi nguyện ngắm, đó là được chết
vì tình yêu thánh của Người bằng một cái chết phũ phàng. » (Ngày 11-07-1663. Thư 034).
Và trong lá thư viết mời
em trai Nicolas Lambert của mình sang truyền giáo, ngài nói :
« Vì em là người
thân yêu của anh, anh sẽ không bỏ qua sự gì để góp phần vào sản nghiệp [thiêng
liêng] của em. Anh muốn nói là sẽ làm em nghèo khó hơn, bị khinh miệt hơn, đáng
bị khinh dể hơn và sẽ tìm cho em những công việc có thể làm em đổ những giọt
máu cuối cùng của em cho Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. [...] Quả thật, anh rất
vui được hợp tác vào cái chết của em
theo cách thức đó. Chưa từng bao giờ lại có cảnh anh giết em đáng mến và trong
sạch hơn. » (Năm 1664. Thư 049).
*
Cái chết tuyệt vời mà suốt
đời ngài, Đức cha Lambert hằng mơ ước, đó là cái chết tử vị đạo, là cái chết
phũ phàng vì Đức Giêsu Kitô. Nhưng suốt 17 năm sống đời thừa sai tại Á châu,
cái chết mà ngài cảm nghiệm và luôn thực hành mỗi ngày là cái chết thiêng
liêng, bằng một đời sống đầy hy sinh, hãm mình, khổ hạnh, vì lòng yêu mến Đức
Giêsu Kitô chịu đóng đanh. Chúa đã không ban cho ngài được ơn chết tử vì đạo
hay được ơn chết phũ phàng vì Đức Giêsu Kitô. Ngài chết trên giường bệnh, lúc mới
55 tuổi, ngày 15-06-1679. « Ngài chết đầy đau đớn và Chúa đã cho ngài cảm
nếm tới cực độ sức nặng của thánh giá Chúa mà ngài đã rất say mến trong đời
ngài. » Đức cha Laneau đã làm chứng như vậy. Và Đức cha Laneau nhận xét
thêm rằng : « Thiên Chúa đã đưa ngài qua đó để hủy diệt ngài hoàn
toàn. » Và chúng ta rất cần phải biết đón nhận điểm quan trọng này trong
chứng từ của Đức cha Laneau về Đức cha Lambert rằng : « Nhưng dù những
giác quan hoàn toàn trong rối loạn và cùng khốn, ngài hưởng được một sự bình an
sâu thẳm trong linh hồn mình. Và dù con thú bị dằn vặt giày vò, cái bình yên
nơi sâu linh hồn ngài không hề bị suy giảm chút nào. » Đó là cái đau khổ
vô cùng nơi thân xác và cái bình an thần bí trong thẳm sâu linh hồn nơi các vị
thánh.
Đào Quang Toản
Ngày 13/05/2025
lundi 22 janvier 2024
dimanche 21 janvier 2024
vendredi 5 janvier 2024
1844-2024
180 năm
giáo phận Qui Nhơn
giáo phận Sài Gòn
https://catechesis.net/180-nam-tay-dang-trong-va-dong-dang-trong/
mardi 19 décembre 2023
Ký Sự Đức cha Lambert de la Motte
Ký Sự Đức cha Lambert de la Motte
Lời giới thiệu tổng quát
Sau nhiều năm dài nghiên cứu, chúng tôi đã xuất bản những Ký Sự của Đức cha
Pierre Lambert de la Motte, tiếng Pháp và tiếng Latinh, trong tập Relations, Mgr Lambert de la Motte vào năm 2022 (khổ A4, gồm 269 trang). Và
hôm nay, chúng tôi cho chào đời bản dịch những Ký Sự trên.
Để thực hiện được công việc sưu tầm, tìm
hiểu, dịch thuật, chú giải và chia sẻ này, chúng tôi đã nhận được sự ân cần
giúp đỡ của rất nhiều người. Chúng tôi
xin kính dâng lời cám ơn chân thành đến tất cả quý ân nhân này, còn sống hoặc
đã qua đời.
Gần 1.000 trang bút tích các Ký Sự đây là những sử liệu giúp các nhà
nghiên cứu hiểu chính xác hơn về Đức cha Lambert de la Motte. Ngài được gọi
cách rất xứng đáng là người cha của hàng giáo sĩ Việt Nam, là đấng sáng lập
dòng Mến Thánh Giá và hiệp hội Tín Hữu Mến Thánh Giá.
Ngoài những Ký Sự, vị Đại diện Tông tòa
đầu tiên của Đàng Trong còn để lại 135 lá thư tiếng Pháp, 56 lá thư tiếng
Latinh, một tập Nhật Ký và nhiều tài liệu khác, ví dụ : hồ sơ tòa án cấp
giáo phận về các vị tử đạo Đàng Trong (1673), di chúc (1675), v.v. Tổng cộng,
ngày nay người ta còn có thể tìm lại gần 3.000 trang bút tích của ngài, lưu giữ
tại Paris và tại Rôma.
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bản dịch
những Ký Sự này của Đức cha Lambert de la Motte và chân thành cám ơn sự đón
nhận của quý vị.
Đào Quang Toản,
Mùa Vọng năm 2023
lundi 14 août 2023
Nghe thu âm
Nghe thu âm 230811
Kính thưa các Sơ,
Để đáp lại yêu cầu của quý Sơ, tôi đã
nghe những thu âm của các Sơ gửi và nay xin chia sẻ vài nhận xét cá nhân của
tôi về bài thuyết trình của cha Nguyễn Thanh Tùng, chủ đề : « Hiệp
thông theo tinh thần của Đức cha Pierre Lambert ».
Chúng ta chỉ tìm bảo vệ
sự thật về ĐC Lambert mà thôi.
P. Toản
Nhận định chung :
- Cha nói
năng lưu loát, hùng hồn, tạo cảm tưởng cha có xác tín và thông thái.
- Nhưng
cha sai lầm về nhiều chi tiết lịch sử.
- Cha dùng
nhiều trí tưởng tượng riêng để giải thích sự kiện lịch sử, gây lệch lạc ý nghĩa
đích thực.
- Cha trích
dẫn cả cái sai lầm của người khác mà không biết hay không có khả năng chỉnh
sửa.
- Cha không
thể hiện được chủ đề đưa ra và lạc đề tại nhiều đoạn rất dài.
- Sử gia
Jacques-Charles de Brisacier được cha nhìn nhận và sử dụng khá nhiều. Tiếc là cha
lại rất ít trích dẫn lời ĐC Lambert.
- Thực
sự, có vẻ cha không hiểu biết nhiều về ĐC Lambert.
&
Rất nhiều chi tiết không chính xác :
« cậu
giúp lễ » : không có chuyện này.
Ngài
sinh ngày 28 tháng một năm 1624, chứ
không phải « ngày 28 tháng giêng năm
1624 ». (Lưu ý khác biệt giữa dương lịch và âm lịch, vì trong dương lịch
không có tháng giêng).
« Con
cũng nghi ngờ : lúc ngài sinh ra, làm sao ngài nhớ được, không có chứng
từ, khai sinh… » : cha đã đặt vấn đề một cách kỳ cục, vô lý, với lời
giải thích và lý luận ấu trĩ. Tại sao lại không nghĩ tới việc ngài đã ghi danh
đi học, vào nghề nghiệp, chịu chức thánh, v.v. ? Và phải biết rằng hồi đó
chưa có giấy khai sinh, và sổ rửa tội của ngài tại nhà thờ St Jacques đã bị bom
Đồng Minh phá hủy vào đêm ngày 6 rạng ngày 7 tháng 6 năm 1944, giữa cuộc Thế
Chiến thứ II.[1]
« ơn
thần bí » : lúc còn trẻ 9 tuổi, ngài không nhận được, nhưng chỉ thể
hiện ra.
« một
cái đặc sủng = một cái ơn tiền định » : sai về giáo lý. Vì đặc sủng
thì khác với tiền định.
« ngài
chịu ảnh hưởng rất sâu xa bởi các linh mục dòng Tên » : cần nêu ra
những chứng cớ cụ thể, vì có vẻ đây là điều không có thực.
« Cha
Julien Hayneuve đã ảnh hưởng rất nhiều trên Pierre Lambert de la Motte » :
sai lầm. Lại không đưa ra một chứng minh nào cho điều nêu ra.
« Cuốn
Gương Chúa Giêsu là sách gối đầu giường của Pierre Lambert de la
Motte » : Không hề gặp một bằng chứng khách quan nào về điều này nơi
ĐC Lambert.
« Thiên
Chúa tiền định… » : một ý tưởng rất nguy hiểm về giáo lý. Tại đây,
rất cần phải giải thích rõ ràng hơn và quân bình hơn giữa sự tiền định của
Thiên Chúa và sự tự do của con người.
« ngay
từ bé, [Lambert] đã được tiếp cận với nền thần học linh đạo Mến Thánh Giá do
cha linh hướng [Julien Hayneuve] mình hướng dẫn » : giàu trí tưởng
tượng, xa cách sự thực. Cần lưu ý rằng cha Hayneuve chỉ là linh hướng của
Lambert lúc Lambert làm thẩm phán, từ khi 22 tuổi.
Cha linh
hướng Simon Hallé : có vẻ thuyết trình viên không biết cha Hallé qua đời
lúc nào nên mới nói Lambert theo cha Hallé « hầu như cho đến cuối cuộc đời của ngài ». (Cha
Hallé qua đời năm 1672, tức 7 năm trước khi Lambert từ trần).
Có vẻ
lẫn lộn thứ tự thời gian giữa cuộc tĩnh tâm 40 ngày tại chủng viện của thánh
Jean Eudes (tháng 11.1655) và cuộc hành hương khổ nhục tới Rennes (tháng 7-8.1655).[2]
« Đặt
nền móng cho trường Sư Huynh Lasan
mà sau này ngài bàn giao lại cho
thánh Gioan de la Salle từ trung tâm cứu
tế Rouen của ngài » : sai lầm và lẫn lộn. Kỳ cục. Trình bày không
sáng sủa, không hợp lý. (Thánh Gioan de la Salle sinh năm 1651 tại Reims, làm
linh mục năm 1678, lập dòng Lasan năm 1684. Nghĩa là khi Lambert rời Pháp năm
1660, Gioan de la Salle mới lên 9 tuổi và đang sống cách xa Rouen khoảng
250 km).
« …
nghe biết Đức Alexandre VII cho tái lập
lại cái dự án truyền giáo gửi GM đến VN… » : sai. Vì chỉ sau khi
năm linh mục Pháp thỉnh nguyện (ngày 17.7.1657), ĐGH Alexandre VII mới nhận lại
dự án nói trên.[3]
« ngay
từ khi còn ở Paris… đã chuẩn bị cho
cái tiến trình thành lập chủng viện
Hội Thừa Sai và sau này nó là Hội
Thừa Sai Paris » : sai lầm và lẫn lộn. Cần thu thập nhiều sử liệu hơn
để biết chuyện này đã xảy ra tại Rôma năm 1657-1658[4].
Cần phân biệt chủng viện Hội Thừa Sai (tòa nhà) và Hội Thừa Sai (tổ chức).
« Trong
[chủng viện] Hội Thừa Sai Paris, chân dung của cha Alexandre de Rhodes được đặt
một cách trang trọng là người của Dòng Tên, như là kẻ thù của người Pháp trong truyền giáo » : Đúng là một
nhận định hồ đồ, sai lầm, vơ đũa cả nắm. Chỉ có thể nói cha Đắc Lộ là kẻ thù
của triều đình Bồ Đào Nha mà thôi.
« Ông
linh mục dòng Tên Fragoso… » :
nói hăng hái quá nên lỡ trớn lẫn lộn lung tung (tới hai, ba lần). Vì cha Louis
Fragoso là tu sĩ linh mục dòng Đa Minh, người Bồ Đào Nha.
« Giáo
phận Đàng Trong bao gồm vùng vương
quốc Đàng Trong, nước Campuchia và năm tỉnh ở Trung Quốc. Giáo phận Đàng Ngoài gồm vương quốc Đàng Ngoài, nước Lào và
năm tỉnh ở Trung Quốc » : một hiểu lầm kỳ cục. Thuyết trình viên
không phân biệt được quyền tài phán
của hai ĐC Lambert và Pallu với lãnh thổ
của các giáo phận khác nhau.
« Dự
án… ĐC Pallu chưa gia nhập vào cái gọi là hội
dòng Thánh Giá, hay là hội tông đồ
truyền giáo này… Các thừa sai lần lượt khấn giữ… trong Hội dòng Tông đồ,
Hội dòng Thánh Giá… » : Lịch sử chỉ có Hội Dòng Tông Đồ, không có Hội
dòng Tông đồ Truyền giáo hay Hội dòng Thánh giá. Mặt khác, chỉ có bốn vị khấn
vào Hội Dòng Tông Đồ mà thôi, không phải tất cả « các thừa sai lần lượt
khấn giữ ».
« đã
ba năm rồi, chúng tôi ở đây sống
khắc khổ… » [Trích dẫn cha Vachet] : Cha Vachet luôn bị mang tiếng
là viết theo cảm tính, phóng đại, không chính xác. Đúng theo sử liệu thì ĐC
Lambert, ĐC Pallu, cha Deydier và cha Laneau đã tuyên khấn vào Hội Dòng Tông Đồ
ngày 06.01.1665. Nay, vào đầu tháng 7.1671, ĐC Lambert nhận tin từ chối của Tòa
Thánh. Như vậy, không phải là 3 năm,
nhưng phải là trên 6 năm.
Cha Đắc Lộ từ chối làm giám mục cho VN vì
những lý do riêng tư của cha Đắc Lộ, cách riêng đối với các đồng nghiệp dòng
Tên. Thật là sai lầm khi thuyết trình viên lý luận hay suy diễn là do liên quan
tới quyền bảo trợ truyền giáo Bồ Đào Nha. Nếu thuyết trình viên có được lá thư
từ chối làm giám mục của cha Đắc Lộ gửi thư ký Thánh bộ ngày đó (bằng tiếng
Latinh) thì hay quá, vì cha sẽ biết được sự thật và giúp nhiều người biết được
sự thật.[5].
« …
ĐC Lambert sợ cái vạ tuyệt thông
thành sự và sợ xuống hỏa ngục mất linh hồn… Xin Tòa Thánh giải quyết nếu như bị
vạ tuyệt thông thì giải cái vạ tuyệt thông cho ngài. » : Cách suy
diễn này quá tầm thường, trẻ con, vì thiếu sử liệu làm nền tảng vững chắc, không
khám phá đúng đắn sự kiện và con người đích thực rất cao quý của ĐC Lambert
trong biến cố này.[6]
< >
Paris, ngày 13.8.2023
PJD
[1] Xem Đào Quang Toản, Đặc sủng Mến Thánh Giá : Bài 3 : Thời nhỏ.
[2] Jacques-Charles de Brisacier, Vie de Mgr Lamothe Lambert, đoạn 45-58 (hành hương Rennes) ; đoạn 65-66 (tĩnh tâm tại Coutances).
[3] Xem Adrien Launay, Documents
historiques relatifs à
[4] Jacques-Charles de Brisacier, op. cit., đoạn 169.
[5] AMEP, vol. 200, p. 13.
[6] Hãy xem phản ứng rất cao cả và thánh thiện của ĐC Lambert khi bị vạ tuyệt thông từ cha Fragoso : Ký Sự, AMEP, vol. 121, p. 733 ; vol. 876, p. 463 (Thư của ĐC Lambert gửi cha Fragoso).
Cha Đắc Lộ từ chối làm giám mục tại Việt Nam
Ngày 27/06/1649, cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) tới Rôma. Cha sẽ tận lực vận động xin Tòa Thánh gửi một giám mục sang Việt Nam lập hàng giáo sĩ bản xứ. Khoảng giữa năm 1652, Tòa Thánh đề nghị cha làm giám mục cho Việt Nam. Cha Đắc Lộ từ chối. Sau đây là lá thư từ chối của cha.
Thư
gửi vị thư ký Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin
1652[1]
Kính thưa Đức Ông rất đáng kính,[2]
Đến Rôma cách đây hai năm, con đã trình bày ngay cho Đức
Thánh Cha, Đại Diện Đức Kitô tại trần gian, tình trạng Giáo Hội Việt Nam và con
đã báo cho Đức Thánh Cha biết cần phải sai các mục tử đến chăm sóc đoàn chiên của
Đức Kitô nơi những vùng đất xa xôi ấy. Lúc đấy, Đức Thánh Cha đã ủy thác cho
con đi thương lượng việc này với các Đức Hồng y đáng kính của Thánh bộ Truyền
bá Đức tin. Đó là điều con đã làm cho tới bây giờ, để đáp lại mệnh lệnh của Đức
Thánh Cha, bằng cách diễn tả nhu cầu cực cấp bách của các vùng đất trên. Vì vậy,
con đã thường xuyên bàn thảo chuyện này với Đức Ông, hy vọng rằng nhờ Thánh Bộ,
sự cứu giúp thiêng liêng sẽ được đem đến cho Giáo Hội sơ khai đấy. Trong khi
con lo làm tròn phận vụ này cách chân thành, con được biết qua những người đáng
tin cậy rằng ai đó đã có ý nâng con lên chức giám mục. Không cách nào, việc này
lại hợp lý được.
Thứ
nhất, để mang một gánh nặng như vậy, con hoàn toàn không đủ sức.
Con thưa điều này, không phải vì khiêm nhường, nhưng vì sự thật trước Thiên
Chúa. Quả thật, con không có được các nhân đức cần thiết cho công việc này và
con lại đầy dẫy những tật xấu và lầm lỗi không kể xiết, khiến con tuyệt đối
không có khả năng nhận một phẩm tước như vậy. Chỉ có các thánh mới có khả năng
nhận chức phẩm này, Thánh Bộ biết các vị ấy rất rõ. Các vị ấy có sẵn tất cả các
nhân đức mà con tự nhận mình không có ; trái lại, con thú nhận mình còn
mang rất nhiều khiếm khuyết.
Thứ
hai là con thiếu sự khôn ngoan tinh thần cần thiết để cai quản
vô số các linh hồn đó, giúp các tín hữu được kiên vững trong đức tin và đưa vào
đức tin nhiều linh hồn khác. Chính vì lẽ này, phải chọn lựa những người rất
khôn ngoan trong Chúa để gìn giữ và phát triển công trình của Thiên Chúa.
Thứ
ba, để bảo vệ danh dự của cá nhân con, điều cần là Thánh Bộ
đừng thăng tiến con, ít nữa là trong dịp này. Do sự kiện con thường hay trao đổi
vấn đề với Thánh Bộ, người ta sẽ đánh giá cách chính đáng rằng con làm việc để
thăng tiến cá nhân mình. Đây là điều dứt khoát phản nghịch lại luật lệ Hội Dòng
chúng con và lời khấn của tất cả các tu sĩ Hội Dòng chúng con là không tìm kiếm
một phẩm tước nào, cách trực tiếp hay gián tiếp. Không ai mà lại không biết đến
những thương lượng của con với Thánh Bộ, hậu quả sẽ là một xì căng đan rất lớn
trong Hội Dòng chúng con nếu con được bổ nhiệm, vì người ta sẽ nghĩ con tìm sự
bổ nhiệm này cho chính mình.
Thứ
tư, chắc sẽ xẩy ra rằng nhiều thợ giỏi giang mà Thiên Chúa gọi
vun trồng vườn nho này, thấy con được thăng tiến lên chức giám mục, sẽ bỏ rơi
ơn gọi của họ, gây thiệt hại cho Giáo Hội Việt Nam. Bởi vì không có sự giúp đỡ
của các người thợ tài ba, các giám mục không thể làm gì cho ơn cứu rỗi của các
linh hồn.
Thứ
năm, sự thăng tiến này sẽ cản đường con bỏ công sức ra vì ích
lợi của Giáo Hội sơ khai đó. Không là giám mục, con có thể dễ dàng làm việc. Được
nâng lên giám mục, con sẽ không thể làm việc được nữa, bằng chính sức mình hay
với sự hợp tác của các cha cùng Hội Dòng, vì các ngài sẵn sàng giúp con trong
trường hợp thứ nhất, nhưng không trong trường hợp thứ hai.
Chính vì vậy, nhờ lòng nhân lành của Đức Giêsu Kitô Chúa
chúng ta, con khẩn khoản xin Đức Ông, với nhiệt tâm hăng say của Đức Ông trong
việc khai sinh Giáo Hội Việt Nam, hãy tránh gánh nặng này cho con là kẻ vô năng
và bất xứng. Xin Đức Ông hãy trao phó cho những người nhân đức và có khả năng
gánh vác, vì danh dự và vinh quang của Thiên Chúa rất nhân lành và rất cao cả,
và vì ích lợi lớn lao của các linh hồn người Việt Nam.
Nếu Đức Ông nhận lời xin của con, con sẽ mãi mãi là người
tận tâm với Đức Ông rất đáng kính như vị ân nhân cao trọng của con vậy.
Trong Đức Kitô, người đầy tớ rất khiêm nhường của Đức Ông
rất đáng kính,
Đắc Lộ.
*
[1] Bản tiếng Latinh trong AMEP, tập 200, tr. 13. Bản dịch tiếng Pháp trong H. Sy, La Société des Missions Étrangères. Les débuts : 1653-1663, Paris, éd. Églises d’Asie, 1998, tr. 45-47.
[2] Vị thư ký Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin vào thời kỳ này là Denys Massari (1649-1657). Các sử gia Pháp đều gọi vị thư ký Massari là « Monseigneur », nhưng không cho biết rõ phẩm chức là giám mục hay đức ông. Ở đây, vì không biết gì hơn, chúng tôi tạm gọi là « Đức Ổng », như vị tiền nhiệm của ngài là Đức ông Francesco Ingoli (1622-1649) vậy.
dimanche 1 mai 2022
Mục đích
MỤC ĐÍCH DÒNG MẾN THÁNH GIÁ
« Mục
đích của hội dòng này là tuyên giữ đặc biệt việc nhớ lại và bắt chước cuộc
thương khó của Chúa Giêsu Kitô mỗi ngày, như phương cách tuyệt hảo nhất để đạt
tới sự hiểu biết và yêu mến Người. » (Đức cha Lambert de la Motte)
Finis hujus
instituti : Finis hujus instituti est ut
specialis professio fiat, singulis diebus recolendi imitandique passionem Jesu
Christi, uti medium praestantissimum consequendi cognitionem eius et amorem. (AMEP, vol. 633, p. 8 ; APF,
SOCP, vol. 3, folio 153r).
samedi 30 avril 2022
Đặc sủng và linh đạo
ĐẶC SỦNG DÒNG MẾN THÁNH
GIÁ
Đặc
sủng dòng Mến Thánh Giá là ơn riêng Thiên Chúa ban cho người nữ tu được yêu mến
Đức Giêsu Ki-tô Chịu-Đóng-Đinh. Do đó, như Đấng Sáng Lập, người nữ tu sẽ chọn
« Đức Giêsu-Kitô Chịu-Đóng-Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí con ».
LINH ĐẠO DÒNG MẾN THÁNH
GIÁ
Đặc sủng thì do Thiên Chúa ban, linh đạo thì do Đấng Sáng Lập dạy. Linh đạo dòng Mến Thánh Giá gồm bốn điểm chính : đời sống thánh hiến, cầu nguyện, hy sinh khổ chế và hoạt động tông đồ.


































